Thứ Sáu, 3 tháng 7, 2020

TIỂU ĐƯỜNG PHẦN 39 - VẾT BẦM TÍM TRÊN DA BÁO HIỆU BỆNH LÝ THUỘC MÁU NHƯ TIỂU ĐƯỜNG, RỐI LOẠN NỘI TIẾT TỐ, UNG THƯ.



Image may contain: one or more people, text and closeup



( Ghi chú : Ảnh kèm theo chỉ mang tính minh họa )
Link Video : youtube.com/watch?v=NY4EiHYWmpI

I-LÝ THUYẾT VỀ CẤU TẠO MÁU :
Tế bào cần 4 chất nuôi tế bào là : glucose, protein, lipid và oxy.
Glucose + protein vào cơ thể biến thành chất glycoprotein tạo ra insulin, tạo ra kháng thể và tạo ra máu gồm hồng cầu, bạch cầu, và tiểu cầu. Hồng cầu nuôi cơ thể, bạch cầu chống bệnh, tiểu cầu làm đông máu.
Glucose + lipid vào cơ thể biến thành chất glycolipid là chất tạo da, cellulose làm vỏ bọc tế bào, cũng là kháng thể chống bệnh.
Lipid và protein thành chất lipoprotein là năng lượng dự trữ.
Vết bầm tím trên da là do bệnh của tiểu cầu bị vỡ do thiếu chất glycolipid tạo vỏ bọc tế bào và glycoprotein tạo insulin, tạo máu gồm hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu, nên gọi là rối loạn nội tiết tố, máu và đường.
Vết tím bầm trên da do nguyên nhân vỡ tiểu cầu mất khả năng làm đông máu bảo vệ mọi tế bào.
II-PHÂN BIỆT NHIỀU LOẠI BỆNH BẦM TÍM THEO TÂY Y :
A-GIẢI THÍCH VỀ SỰ :
Nguyên nhân thông thường gây ra những vết bầm tím dưới da là do mạch máu bị vỡ khi mang vác, va chạm hay vận chuyển những vật nặng bị va đập, chấn thương dẫn đến những vết rách cực nhỏ trong các thớ sợi cơ bắp, đây cũng là lý do làm cho da xuất hiện những vết bầm tím.
Chảy máu có thể ở :
Bên ngoài : trên bề mặt ngoài cơ thể, nơi có thể nhìn thấy được.
Bên trong : ở bên trong cơ thể, nơi không thể nhìn thấy được. Chảy máu bên trong khớp ( như khớp gối hoặc khớp háng ) thường gặp ở trẻ bị bệnh ưa chảy máu, xuất huyết nội tạng do ung thư….
B-GIẢI THÍCH VỀ LÝ :
Tây y thường gặp 4 loại :
1-Bệnh Hemophilia, xuất huyết dưới da.
a-Về lý thuyết :
Vết bầm tím thường là một chấn thương da phổ biến do sự̣ vận chuyển máu qua lại giữa tim, các mô và cơ quan của cơ thể bị vỡ khiến hồng cầu thoát ra khỏi thành mạch và thoái hóa, gây nên các mảng bầm đen, vàng, xanh dương mà y học còn gọi là tình trạng xuất huyết trên da..
b-Về bệnh lý :
-Do bệnh tiểu đường qúa thấp.
Nhưng đặc biệt dùng thuốc trị tiểu đường lâu dài mà đường huyết qúa cao, có pH acid thì da bị vết bầm phải cưa bỏ chân do bị chảy máu khớp dẫn tới hoại tử.
-Lão hóa : Khi về già, việc sản sinh collagen trên da giảm và lớp mỡ bảo vệ da cũng ít đi do thiếu chất glycolipid. Sau tuổi 60, con người thường rất dễ bị các vết bầm tím dù chỉ có tác động nhẹ lên da.
-Rối loạn máu : Nếu bị xuất huyết dưới da sẽ xuất hiện nhiều vết nhỏ li ti và bầm tím do máu bị rò rỉ ra ngoài các mao mạch nhỏ. Đối với người bệnh bạch cầu và hội chứng rối loạn đông máu có thể làm tăng nguy cơ chảy máu hoặc tạo các cục máu đông và huyết tắc dưới da là những vết thâm tím.
Khi tiểu cầu đã tạo nút chặn, chúng sẽ phóng thích những hóa chất lôi kéo nhiều tiểu cầu hơn tới và cũng chuyển hóa các protein trong máu gọi là các yếu tố đông máu. Những protein này trộn với tiểu cầu để hình thành các sợi làm cục máu đông chắc hơn và làm ngưng chảy máu.
-Bệnh đa xơ cứng (Multiple sclerosis-MS)
Chứng rối loạn não bộ và tủy sống với chức năng thần kinh bị giảm sút kết hợp với việc hình thành sẹo trên lớp phủ ngoài của các tế bào thần kinh. Trong nhiều trường hợp, các triệu chứng của MS bao gồm nhiều giai đoạn tê liệt khác nhau.
-Bệnh gan : Nếu vết bầm tím xuất hiện nhiều lần thì có thể là triệu chứng của bệnh gan đối với người nghiện rượu, vì chức năng gan mất khả năng giải phóng các protein cần thiết cho quá trình đông máu sẽ sụt giảm, da sẽ có mầu vàng, ngứa, chân có thể sưng và nước tiểu mầu sẫm.
-Bệnh ung thư : Những vết bầm tím có chảy máu kéo dài, thâm tím vùng da lớn không rõ lý do có thể là dấu hiệu ung thư máu trong bệnh bạch cầu là một dạng ung thư máu và tủy xương, ảnh hưởng đến lưu lượng máu và tủy xương trong cơ thể. Ung thư loại này khiến cơ thể dễ bị chảy máu nướu răng và da dễ bị bầm tím, các chuyên gia cho biết hoặc các rối loạn đông máu khác hoặc do cơ thể thiếu vitamine K làm đông máu.
2--Bệnh Thalassemia, bệnh tan máu bầm máu.
a-Nguyên nhân :
Nguyên nhân của Thalassemia là cấu tạo bất bình thường của hemoglobin trong hồng cầu. Hai thể dạng bất thường chính được gọi là alpha-Thalassemia và beta -Thalassemia, tùy theo phần nào của chất hemoglobin bị thiếu. (Hemoglobin là một cấu trúc đạm có khả năng giữ dưỡng khí oxy trong hồng cầu).
Dưới dạng bệnh nặng nhất của alpha-thalassemia, thấy nhiều nhất trong các sắc dân ở Đông Nam Á, thường làm hư thai hay trẻ con chết khi sinh. Phần lớn những người có bệnh alpha-thalassemia bị thiếu máu kinh niên - một số bị nặng trầm trọng, không sống được lâu.
Bệnh Thalassemia dạng trầm trọng, còn được gọi là bệnh thiếu máu Cooley, theo tên người bác sĩ đầu tiên miêu tả căn bệnh này vào năm1925.
b-Triệu chứng của bệnh :
Khi mới sinh ra, trẻ bị dạng bệnh nặng của thalassemia trông có vẻ khoẻ mạnh bình thường. Nhưng trong vòng vài tháng hay một hai năm, trẻ sẽ khó chịu, mệt mỏi, biếng ăn. Trẻ sẽ chậm lớn và da hay ửng màu vàng.
Nếu không chữa trị, lá lách, gan và tim sẽ sưng to. Xương bị xốp và dễ gãy, cấu trúc của xương mặt bị thay đổi. Vì hồng cầu vỡ sớm hơn bình thường nên tủy xương phải làm việc quá sức (để sản xuất hồng cầu), khiến xương biến dạng. Ở những trẻ bị Thalassemia nặng, trán gồ lên, mũi tẹt, xương hàm trên nhô ra do tăng sản tủy xương (trẻ em bị thalassemia nặng hay trông giống nhau vì cấu trúc xương mặt đều bị biến dạng tương tự). Trẻ sẽ chết sớm, nhất là vì suy tim hay nhiễm trùng.
3-Bệnh u máu ở trẻ em hemangioma
U máu có thể có mặt khi sinh, nhưng thường xuất hiện nhiều hơn trong vài tháng đầu đời.Trẻ bắt đầu thấy một dấu đỏ phẳng ở bất cứ đâu trên cơ thể, thường xuyên nhất là trên mặt, da đầu, ngực hoặc lưng. Thông thường một đứa trẻ chỉ có một dấu hiệu, một số trẻ có thể có nhiều hơn.
Trong năm đầu tiên của trẻ, vết đỏ phát triển nhanh chóng thành một vết sưng trông giống như cao su xốp dính ra khỏi da. U máu sau đó bước vào giai đoạn nghỉ ngơi và cuối cùng, nó bắt đầu dần biến mất.
Nhiều khối u máu biến mất khi 5 tuổi và hầu hết sẽ biến mất hoàn toàn khi trẻ lên 10 tuổi. Da có thể bị đổi màu một chút hoặc nổi lên sau khi hemangioma biến mất.
Ở trẻ nhỏ, nếu tốc độ tăng sinh của khối u nhanh hơn so với sự phát triển của trẻ sơ sinh, thì các vấn đề về chức năng và thẩm mỹ như loét, tắc mũi, vấn đề về thị lực và tắc nghẽn đường thở rõ ràng sẽ xuất hiện.
Với người trưởng thành, một số vị trí đặc biệt như vùng mí mắt, hốc mắt, mang tai gây biến chứng chèn ép thần kinh thị giác, mặt bị biến dạng. Nguy hiểm hơn có thể gây chảy máu ồ ạt nếu có thêm va chạm tổn thương vùng u.
Nguyên nhân gây u máu có thể là từ phôi thai, do di tích của trung bì phôi thai.
Giả thuyết liên quan đến căn nguyên gây u máu bao gồm:
+ Từ phôi thai, do di tích của trung bì phôi thai;
+ Nhiễm virus gây u nhú trên người, tiếng Anh còn gọi là Human Papuloma virus-HPV gây mất kiểm soát điều hòa tăng sinh tế bào nội mạch của mạch máu;
+ Do nội tiết tố: Người ta thấy nồng độ cao của 17-Beta Estradiol là chức năng chuyển h́óa hormone nữ từ cha mẹ ở trẻ u máu;
+ Heparine là chất đông máu do các dưỡng bào tiết ra gây kích thích tế bào sợi và tế bào nội mạch tăng ở các trẻ u máu.
4-Bầm tím da do thuốc làm loãng máu :
Các thuốc có thể gây chảy máu như aspirin, histamin, không tiêm bắp, không châm cứu.
Một số loại thuốc nếu dùng nhiều như: aspirin, thuốc tránh thai, thuốc chống trầm cảm, thuốc giảm đau, thuốc chống viêm, thuốc chống đông máu, thuốc có chứa sắt hoặc thuốc chống hen suyễn trong thời gian dài... có thể khiến da dễ bị bầm tím.
Thiếu vitamin C đóng vai trò quan trọng để chữa lành vết thương và hình thành collagen tạo ra mô mới. Khi cơ thể thiếu hụt vitamin C sẽ khiến các mạch máu nhỏ bị vỡ, kết quả gây bầm tím.
Ngoài ra, thiếu vit.B12 sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình sản xuất máu, thiếu vitamin K làm giảm đông máu, thiếu vitamin P khiến quá trình sản xuất collagen gặp khó khăn, dẫn đến các mạch máu trở nên mỏng và có thế sinh ra các vết bầm tím thường xuyên.
Mất cân bằng nội tiết : Các vết bầm tím sẽ không ngừng xuất hiện nếu cơ thể người phụ nữ bị thiếu estrogen (hormone sinh dục nữ). Đây là nguyên nhân làm suy yếu đáng kể các mạch máu và khiến mao mạch dễ bị tổn thương hơn. Theo các chuyên gia, sự mất cân bằng hormone trên có thể là do phái nữ đang trong thời kỳ mãn kinh, đang sử dụng thuốc kích thích tố hoặc đang mang thai.
Người bị tình trạng xuất huyết dưới da sẽ xuất hiện nhiều vết nhỏ li ti và bầm tím, do máu bị rò rỉ ra ngoài các mao mạch nhỏ; đối với người bị bệnh bạch cầu và hội chứng rối loạn đông máu có thể làm tăng nguy cơ chảy máu hoặc tạo các cục máu đông và huyết tắc dưới da. Đây là lý do khiến làn da trở nên "kém sắc" bởi các vết thâm tím.
Các vết bầm tím sẽ không ngừng xuất hiện nếu cơ thể bạn bị thiếu Estrogen (hormone sinh dục nữ), vốn là nguyên nhân làm suy yếu đáng kể các mạch máu và khiến mao mạch dễ bị tổn thương hơn. Theo các chuyên gia, sự mất cân bằng hormone kể trên có thể là do phái nữ đang trong thời kỳ mãn kinh, sử dụng thuốc kích thích tố hoặc đang mang thai.
C-CÁCH CHỮA :
1-Cách chữa ngọn :
Phương pháp chữa tại nhà như chườm lạnh nước đá và sau đó chườm nóng, thuốc giảm đau không kê toa, đặt vùng thâm tím lên cao nếu có thể.
Chườm lạnh bằng túi nước đá hoặc túi rau đông lạnh ở vùng da bị ảnh hưởng trong 20-30 phút để tăng tốc độ phục hồi và giảm sưng. Tuy nhiên, bạn đừng chườm đá trực tiếp lên da mà hãy quấn túi nước đá trong khăn;
Nâng chân lên cao càng nhiều càng tốt trong vòng 24 giờ đầu tiên sau khi bị thương nếu các vết bầm tím chiếm một vùng da lớn ở chân hoặc bàn chân;
-Ngăn ngừa :
+ Tập thể dục thường xuyên để tăng cường sức mạnh của cơ bắp khỏe, như vậy, chuyện chảy máu sẽ ít đi.
+ Sử dụng acetaminophen để giảm đau theo chỉ dẫn của bác sĩ. Tránh dùng aspirin hoặc ibuprofen vì chúng làm chậm đông máu và có thể kéo dài thời gian chảy máu;
+ Dùng khăn ấm chườm lên vết bầm trong 10 phút hoặc lâu hơn sau khoảng 48 giờ bị thương, thực hiện 2-3 lần một ngày có thể làm tăng lưu lượng máu đến vùng thâm tím, giúp da hấp thu máu nhanh chóng hơn. Cuối cùng, các vết thâm sẽ mờ dần.
2-Cách chữa gốc bệnh :
Cần đo áp huyết 2 tay và đường sau khi ăn :
+ Nếu tâm thu bên tay phải thấp hơn tiêu chuẩn tuổi, do thiếu oxy thì phải tập thể dục cho tăng khí oxy, tăng áp huyết tâm thu.
Nếu tâm trương bên tay phải thấp hơn tiêu chuẩn tuổi, do thiếu máu thì phải ăn uống thức ăn bổ máu, uống thuốc bổ máu.
Nếu nhịp tim cao mà nhiệt độ đo ở 2 đầu ngón tay út chỉ low hay thấp dưới 34 độ C là vừa thiếu máu, vừa kiêng ăn đường nên thiếu đường, phải bổ máu, ăn thêm đường, uống thêm nước mía cho tăng lượng máu.
Nếu nhịp tim thấp, nhiệt độ 2 đầu ngón tay út thấp mà đường huyết đo cao, trong khi không ăn đường, và đang uống thuốc hay tiêm insulin, thì đường cao này rút đường glycogen trong cơ thể làm dung dịch máu có độ pH acid thì sẽ bị ung thư. Phải uống thêm baking soda, nước điện giải có pH kiềm 9.5 hay phải uống nghệ pha mật ong hay đường hay viên nghệ làm tăng pH kiềm tính chống ung thư.
XEM THÊM BÀI DƯỚI ĐÂY :
Đây là bảng tiêu chuẩn áp huyết theo loại tuổi theo kinh nghiệm của khí công y đạo :
95-100/60-65mmHg, mạch tim đập 60-120 là áp huyết ở tuổi thiếu nhi.( 5-12 tuổi)
100-110/60-65mmHg, mạch tim đập 60-70 là áp huyết ởtuổi thiếu niên (13–17 tuổi)
110-120/65-70mmHg, mạch tim đập 65-70 là áp huyết ở tuổi thanh niên (18-40 tuổi)
120-130/70-80mmHg, mạch tim đập 70-75 là áp huyết ở tuổi trung niên (41-59 tuổi)
130-140/80-90mmHg, mạch tim đập 70-80 là áp huyết ở tuổi lão niên (60 tuổi trở lên)
Tiêu chuẩn mới về đường-huyết tháng 03 năm 2018 của các Đại Học Bác Sĩ Hoa Kỳ :
Trước khi ăn sáng: Người không bị tiểu đường 100mg/dL= 5,6mmol/l
Người bệnh tiểu đường 70-130mg/dL ( 3,9-7,2mmol/l )
2 giờ sau bữa ăn Người không bị tiểu đường: Dưới 140 mg / dL= 7,8mmol/l
Người mắc bệnh tiểu đường: Dưới 180 mg / dL= 10mmol/l
Trước khi đi ngủ người không bị tiểu đường: 120 mg / dL=6,7mmol/l
Người mắc bệnh tiểu đường: 90-150 mg / dL ( 5,0-8,3mmol/l )
Hiện nay xét nghiệm hạ tiêu chuẩn xuống thấp còn 3.6 - 6.1mmol/l thì cả thế giới bị bệnh tiểu đường để cơ thể thiếu đường gây ra nhiều bệnh nan y.
HIỂU SAI VỀ ĐƯỜNG :
Trước khi ăn, đường thiếu thì thức ăn cũ biến thành đàm, nhịp tim thấp thì làm nghẹt lưu thông máu nên áp huyết tăng, do đó phải uống đường lên cao 10 để chuyển hóa nốt thức ăn cũ còn trong bao tử cho xuống theo tiêu chuẩn đó cả về áp huyết và đường xuống còn 7, nếu vẫn còn cao phải tập tiếp cho xuống 6-7 rồi mới ăn.
Sau khi ăn no đường thiếu không lên 10 phải uống cho đủ 10, sau 30 phút tập chuyển hóa thức ăn và đường thành máu, nếu đường thấp thì thức ăn biến thành đàm, nghĩa là sau khi ăn đường phải là 10 rồi tập cho tiêu hết thức ăn thành máu, không đủ đường thức ăn sẽ biến thành đàm, tập xong người toát mồ hôi đường xuống 7 thì nghỉ.
Nhớ rằng thức ăn hóa lỏng chảy vào máu dễ và nhận oxy thì thành máu, còn thiếu đường, thiếu tập thức ăn không hóa lỏng mà thành chất sệt đặc thì thành đàm.
Riêng kinh nghiệm của Môn Khí Công Y Đạo, trước khi đi ngủ đường huyết phải từ 130-150mg/dL, trong đêm đường huyết sẽ tụt thấp cho đến khi trước khi ăn sáng sẽ thấp nhất là 100mg/dL sẽ an toàn, nếu trước khi đi ngủ đường huyết thấp 90mg/dL sẽ bị nguy hiểm khi ban đêm đường huyết tụt thấp khoảng 70-50mg/dL rơi vào hôn mê hoặc tử vong.
Tiêu chuẩn cũ từ năm 2010 qúa thấp chỉ cho phép dưới 126mg/dl, ai cao hơn là bị bệnh tiểu đường, nên hậu quả của đường huyết thấp gây ra hơn 100 loại bệnh nan y và ung thư khó chữa.
CÓ NHIỀU CÁCH UỐNG ĐƯỜNG :
+ Uống đường pha nước 6-9 thìa đường/ngày làm tăng nhịp tim, chữa bệnh xuất mồ hôi tay, suy tim.
+ Uống chanh đường cho người có pH acid bị trào ngược thực quản, áp huyết cao.
+ Uống đường gừng cho người áp huyết thấp người lạnh.
+ Uống nước mía cho người thiếu máu, nóng trong người, lở môi miệng.
+ Uống nước mía 1,5 lít/ngày vắt chanh giải nhiệt, tăng pH kiềm cho người đang lọc thận, trong 3 tháng khỏi lọc thận, uống 3 ngày giải nhiệt khỏi bệnh sốt xuất huyết và các bệnh sốt.
+ Uống 1 thìa cà phê baking soda pha 4 thìa cà phê đường cát vàng trong 1/2 ly nước, uống sau khi ăn trưa 30 phút, rồi tập bài Kéo Ép Gối và Lăn Người mỗi ngày để chữa ung thư, cho đến khi thử giấy qùy đo nước bọt có pH 7-8 thì ngưng.
Phải mua máy thử tiểu đường theo dõi đường trước khi ăn và sau khi ăn phải đúng tiêu chuẩn khi đói dưới 8, khi no dưới 10, nếu cao hơn thì phải tập cho xuống, thấp hơn thì phải uống thêm đường cho đúng tiêu chuẩn.
Thí dụ khi đói đường huyết mình chỉ có 5mmol/l thì uống thêm đường cho lên 7-8, có người uống 5 thìa là lên đủ, có người uống 20 thìa mới lên đủ.
Còn khi đường cao thí dụ 15mmol/l tập 2 bài này, có người tập 15 phút nó xuống 7, nhưng có người tập 60 phút mới xuống 7, tùy theo cơ thể mỗi người
doducngoc





Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Lưu ý: Chỉ thành viên của blog này mới được đăng nhận xét.